Theo đó, mục tiêu của chương trình này là: (1) Nâng cao hiệu quả sử dụng, giảm mức tiêu thụ và thất thoát để đến năm 2015 phấn đấu tiết kiệm từ 5-7% tổng mức tiêu thụ năng lượng trong toàn ngành, giảm tỷ lệ thất thoát và lãng phí trong việc cung cấp nước sạch xuống dưới mức 25% vào năm 2015 và giảm tỷ lệ thất thoát nguyên vật liệu xuống dưới 5% trong các hoạt động quản lý, sản xuất, kinh doanh của các đơn vị cơ sở trong toàn ngành; (2) Xây dựng và ban hành được các quy chuẩn, tiêu chuẩn, văn bản hướng dẫn, tài liệu tuyên truyền về sử dụng TKNL, nước sạch và các nguồn tài nguyên trong các hoạt động của ngành Xây dựng; (3) Trình độ chuyên môn và kiến thức về TKNL của cán bộ và công chức trong toàn ngành được nâng cao thông qua việc phổ biến, tập huấn, đào tạo, tuyên truyền các nội dung của Quy chuẩn Xây dựng Việt Nam QCXDVN 09:2005 "Các công trình xây dựng sử dụng năng lượng có hiệu quả" và các văn bản có liên quan; (4) Nghiên cứu phát triển và chuyển giao được các công nghệ mới, ứng dụng các loại vật liệu mới TKNL, tiết kiệm tài nguyên và thân thiện với môi trường trong các lĩnh vực của ngành; (5) Xây dựng được và đưa vào hoạt động có nề nếp các mô hình quản lý và sử dụng tiết kiệm hiệu quả nguồn năng lượng, nước sạch trong các toà nhà để nhân rộng theo các giải pháp và phương thức quản lý; (6) Thành lập các trung tâm TKNL trong các đơn vị sự nghiệp hiện có của ngành để tham gia thực hiện công tác tư vấn, thiết kế, đào tạo, nghiên cứu, chuyển giao công nghệ về nâng cao hiệu suất sử dụng năng lượng và nguyên vật liệu.
Được sự quan tâm của Ban chỉ đạo và Văn phòng Tiết kiệm năng lượng, Bộ Xây dựng đã tổ chức thực hiện hàng loạt các hoạt động như xây dựng các tiêu chuẩn và hướng dẫn kỹ thuật; tổ chức nghiên cứu, thực nghiệm các giải pháp quản lý và giải pháp kỹ thuật TKNL trong quy hoạch, thiết kế kiến trúc xanh; ứng dụng năng lượng tái sinh trong các tòa nhà.
Trong nỗ lực chung của các cơ quan quản lý nhà nước và các nhà khoa học, cần phải thấy rằng quá trình tổ chức thực hiện đã gặp không ít trở ngại: Đó là, năng lực quản lý năng lượng trong xây dựng còn hạn chế. Mặc dù QCXDVN 09:2005 được ban hành từ 2005, nhưng việc kiểm soát các công trình xây dựng theo yêu cầu của Quy chuẩn tại các địa phương còn chưa đầy đủ như những Quy chuẩn xây dựng khác. Bên cạnh đó, năng lực tư vấn và kiểm toán năng lượng các công trình xây dựng còn nhiều hạn chế, thậm chí ngay tại các thành phố lớn. Phần lớn các tổ chức và doanh nghiệp xây dựng còn chưa có kinh nghiệm cần thiết để tư vấn các giải pháp TKNL một cách toàn diện cho các chủ đầu tư. Mặt khác, việc triển khai các dự án thực nghiệm về giải pháp TKNL tại các công trình xây dựng còn hạn chế do nguồn kinh phí đầu tư ít, thời gian triển khai dự án kéo dài, chuyên gia tư vấn thuộc các lĩnh vực thiết kế (vật liệu, kiến trúc, hệ thống kỹ thuật công trình…) chưa thật sự có kinh nghiệm thực hiện các nhiệm vụ nói trên.
Từ các quy định của QCXDVN 09:2005, các yêu cầu về sử dụng vật liệu bao che cho công trình, các thông số tính toán cần phải đạt được khi thiết kế công trình có liên quan đến các giải pháp quy hoạch - kiến trúc, sử dụng vật liệu, trang thiết bị có hiệu suất cao và tính toán hiệu suất toàn công trình. Đây là những nội dung không mới ở từng chuyên ngành riêng biệt, nhưng lại hoàn toàn mới mẻ khi phối hợp các yếu tố trên để thiết kế xây dựng cho mỗi công trình xây dựng.
Để giải quyết các vấn đề trên, cần phải có những giải pháp toàn diện và những bước đi thích hợp để nâng cao năng lực của các cơ quan quản lý và các đơn vị tư vấn trong nước về lĩnh vực TKNL.
Trước hết, cần đầu tư cho việc xây dựng các tiêu chuẩn và hướng dẫn kỹ thuật có liên quan đến giải pháp TKNL trong công trình xây dựng. Trên cơ sở đó, các tổ chức, cá nhân có được phương pháp luận cần thiết để tư vấn cho chủ đầu tư các công trình xây dựng những giải pháp thực sự thuyết phục về SDNLTK&HQ.
Thứ hai, cần nâng cao năng lực chuyên môn và các kỹ năng cần thiết của các tổ chức tư vấn về lĩnh vực TKNL thông qua tập huấn, đào tạo và xây dựng thí điểm. Ví dụ, một kiến trúc sư chủ nhiệm công trình cần phải có kỹ năng kiểm soát các giải pháp TKNL thông qua các phương án sử dụng vật liệu bao che, giải pháp quy hoạch - kiến trúc (mật độ xây dựng, mật độ cây xanh, hướng nhà, khoảng cách giữa các công trình, giải pháp mặt bằng kiến trúc…); giải pháp sử dụng các thiết bị công trình hiệu suất cao (chiếu sáng, điều hòa không khí, cấp thoát nước…); giải pháp điều khiển các thiết bị tòa nhà và thiết bị sử dụng năng lượng tái tạo; kỹ năng tính toán và so sánh các phương án thiết kế dựa trên các tiêu chí về TKNL…
Thứ ba, năng lực tư vấn kiểm toán năng lượng các tòa nhà cũng rất quan trọng. Điều này chỉ có thể thực hiện khi đội ngũ chuyên gia được đào tạo một cách bài bản và phải có sự đầu tư về trang thiết bị kỹ thuật. Kết quả kiểm toán năng lượng sẽ là cơ sở để nghiệm thu và cấp chứng chỉ TKNL đối với các tòa nhà mới xây dựng. Đối với công trình hiện hữu, việc kiểm toán năng lượng cũng giúp cho chủ sử dụng có những đầu tư cải tạo hoặc cải tiến công tác quản lý năng lượng nhằm đạt được các yêu cầu về TKNL theo quy định của pháp luật.
Các giải pháp trên cần phải có sự đầu tư thích đáng bằng nguồn ngân sách nhà nước, nguồn lực huy động từ xã hội và của các tổ chức quốc tế. Hơn nữa, kinh nghiệm của các tổ chức và chuyên gia quốc tế cũng hết sức quan trọng nhằm giúp Việt Nam trong công tác xây dựng các tiêu chuẩn kỹ thuật, đào tạo nguồn nhân lực, chuyển giao công nghệ tiên tiến trong lĩnh vực TKNL nói chung và trong tòa nhà nói riêng.